Sunday, October 7, 2012

Bản Đồ Tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai là một tỉnh vùng miền Đông Nam Bộ nước Việt Nam, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, tây bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh.

Đồng Nai là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước [2]. Trong đó, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai [3] Đồng Nai có diện tích 5.903,94 km², chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ.

Lịch sử [4]

Đồng Nai ngày nay nằm trên một địa thế chiến lược của kinh tế quốc gia. Theo dòng lịch sử, trước đây, phần đất ngày nay của Đồng Nai thuộc Vương quốc Chân Lạp, hoang sơ và chưa có ai khai phá. Chủ yếu là dân bản địa dân tộc như Mạ, Ch'ro, K'ho, Mơ nông và một ít người Khmer sinh sống. Họ lao động bằng công cụ thô sơ, kỹ thuật còn thấp kém và chưa thể hình thành một quần thể dân cư đúng nghĩa [4].

Chiến lược Nam tiến

Lịch sử của Đồng Nai gắn liền với lịch sử của vùng đất Nam Bộ. Nước Đại Việt lúc bấy giờ chỉ từ Ải Nam Quan đến vùng Bắc Đèo Ngang (Quảng Bình ngày nay). Việc mở rộng được bắt đầu khi có những giao tranh giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa láng giềng lúc bấy giờ.
Để mở rộng cõi bờ về phía Nam, nước Đại Việt lúc bấy giờ đã biết tổ chức một quân đội tốt, hùng hậu và có chiến lược nhu lẫn cương để thực hiện mưu đồ Nam tiến của mình.
Nước Việt Nam lúc bấy giờ xảy ra giao tranh giữa vua Lê - Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn, lịch sử vẫn gọi là thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, đây là cuộc phân tranh tạo ra tình trạng cát cứ trong lịch sử Việt Nam. Cuộc sống của người dân đói khổ và lâm vào lầm than. Điều này tạo ra một làn sóng di dân ồ ạt đầu tiên từ Bắc vào Nam, trong đó có làn sóng di dân của miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp.
Người Việt di cư đến đâu thì khai khẩn và phá hoang lấy đất canh tác đến đó tạo nên vùng đất trù phú. Ruộng lúa, hoa màu xanh tốt.
Năm 1679, nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa Nguyễn Phúc Chu đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay). Họ biến Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai trở thành một thương cảng sầm uất và phát triển.
Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn của bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.
Người Hoa vốn dĩ với bản chất kinh doanh thương mại giỏi đã theo Trần Thượng Xuyên đến định cư ở Bến Gỗ, nhưng sau nhận thấy Cù lao Phố có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán nhờ nằm giữa ngã ba của con sông lớn nhất vùng Nam Bộ , họ đã quyết định di chuyển đến đây sinh sống. Từ đây, Cù lao Phố phát triển ngày càng phồn thịnh và nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại và giao dịch với các quốc gia lân cận của cả vùng Gia Định (Nam bộ ngày nay). Từ 1955-1975 Sau hiệp định giơ-ne-ve đất nước bị chia cắt, Đồng Nai thuộc sự cai quản của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa
Xem Thêm: Lịch sử tỉnh Đồng Nai

Các đơn vị hành chính

.Đồng Nai có : 1 Thành Phố, 1 Thị Xã và 9 huyện
Ðơn vị hành chính cấp Huyện Thành phố
Biên Hòa
Thị xã
Long Khánh
Huyện
Long Thành
Huyện
Nhơn Trạch
Huyện
Trảng Bom
Huyện
Thống Nhất
Huyện
Vĩnh Cửu
Huyện
Cẩm Mỹ
Huyện
Xuân Lộc
Huyện
Tân Phú
Huyện
Định Quán
Toàn Tỉnh
Đồng Nai
Diện tích (km²) 264,08 497,2 431,01 410,8 326,11 247,19 1.092,01 467,95 725,84 774 966,5 5.903,94
Dân số (người) 800.00 181.242 188.594 163.372 215.627 157.637 110.855 153.912 218.753 161.000 212.300 2.483.211
Các đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn 23 phường, 7 xã 6 phường, 9 xã 1 thị trấn, 14 xã 12 xã 16 xã, 1 thị trấn 10 xã, 1 thị trấn 11 xã, 1 thị trấn 13 xã, 1 thị trấn 14 xã, 1 thị trấn 17 xã, 1 thị trấn 13 xã, 1 thị trấn 29 phường, 6 thị trấn, 136 xã
Huyện lỵ - - Thị trấn Long Thành Xã Phú Hội Thị trấn Trảng Bom Thị trấn Dầu Dây Thị trấn Vĩnh An Thị trấn Long Giao Thị trấn Gia Ray Thị trấn Tân Phú Thị trấn Định Quán Thành phố Biên Hòa

Biển số xe

  1. Thành phố Biên Hòa 60-B1 XXX.XX.
  2. Thị xã Long Khánh 60-B2 XXX.XX.
  3. Huyện Tân Phú 60-B3 XXX.XX.
  4. Huyện Định Quán 60-B4 XXX.XX.
  5. Huyện Xuân Lộc 60-B5 XXX.XX.
  6. Huyện Cẩm Mỹ 60-B6 XXX.XX.
  7. Huyện Thống Nhất 60-B7 XXX.XX.
  8. Huyện Trảng Bom 60-B8 XXX.XX.
  9. Huyện Vĩnh Cửu 60-B9 XXX.XX.
  10. Huyện Long Thành 60-C1 XXX.XX.
  11. Huyện Nhơn Trạch 60-C2 XXX.XX.

Tồ chức hành chính cấp tỉnh [5]

Thống nhất từ Trung ương đến địa phương, Đồng Nai tổ chức hành chính gồm các ban ngành và sở:
Sở Ngoại vụ Đồng Nai
Sở Nội vụ Đồng Nai
Sờ Tài chính Đồng Nai
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sở Thông tin và Truyền thông Đồng Nai
Sở Công Thương Đồng Nai
Sở Tư pháp Đồng Nai
Sở Giao thông vận tải Đồng Nai
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai
Sở Xây dựng Đồng Nai
Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai
Sở Y tế Đồng Nai
Sở Kế hoạch và Đầu tư Đồng Nai
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
Thanh tra tỉnh
Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh
Ban chỉ đạo An toàn giao thông tỉnh Đồng Nai
Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai
Cục Hải quan Đồng Nai
Cục Thuế Đồng Nai
Cục Thống kê Đồng Nai
Kho bạc Nhà nước Đồng Nai
Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh Đồng Nai.

Thông tin kinh tế

Dân số

Dân số toàn tỉnh theo số liệu điều tra năm 2009 là 2.483.211 người [6], xếp thứ 5/63 tỉnh, thành phố cả nước (chỉ sau TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa và Nghệ An), mật độ dân số: 421 người/km². Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2009 là 10,52%.
Dân số Đồng Nai đặc biệt tăng nhanh do quá trình đô thị hóa và làn sóng di cư của nhiều người dân lao động nghèo các tỉnh phía Bắc vào Nam làm công nhân tại các khu công nghiệp tập trung.
Dân số thành thị là: 825.335 người chiếm 33% dân số toàn tỉnh và dân cư nông thôn là: 1.657.876 người [6].
Dân số phân theo giới trong tỉnh là : Nam: 1.232.182 người chiếm 49.6% dân số tỉnh ; Nữ: 1.251.029 người [6].
Các huyện, thị, thành phố Biên Hòa, Thống Nhất, Trảng Bom, Long Khánh có mật độ dân số cao nhất tỉnh [6].

Giao thông

Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. Các dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam đều đi qua Đồng Nai.
Giao thông Đồng Nai là một trong những hệ thống giao thông thuận tiện rộng khắp nhưng chưa đồng bộ và xứng tầm. Ngay cả những đô thị lớn nhất của tỉnh cũng hoàn toàn chưa được đầu tư và có được một hệ thống giao thông đúng tầm của một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa đứng hàng đầu của cả nước. Nhìn chung, các đường chỉ được đổ nhựa tại các tuyến đường chính và nằm trong khu nội thành hay nội thị của thành phố Biên Hòa và thị xã Long Khánh. Bên cạnh đó, khi xã hội hóa giao thông nông thôn, một chương trình "nhà nước và người dân" cùng đóng góp để xây dựng và hiện đại hóa giao thông nông thôn cũng chỉ phát triển mạnh tại các vùng nông thôn phát triển và đông đúc dân cư.
Có thể nhìn thấy rõ, Biên Hòa là một đô thị loại II và là một thành phố lớn, có mật độ dân số cao thứ ba cả nước và là một đô thị có dân số cao, thế nhưng từ những năm 1975 đến nay, tức là từ khi thành lập thành phố này đến nay, Biên Hòa vẫn chưa thay đổi và nâng cấp hệ thống giao thông đúng tầm của một đô thị hiện đại và sầm uất. Hệ thống giao thông và hạ tầng gần như quá cũ kỹ và trở nên quá tải không theo kịp sự phát triển nhanh chóng của tỉnh và cũng như chưa được quan tâm nhiều trong thời gian qua.[7].
Khi Chính phủ quy hoạch vùng thành phố Hồ Chí Minh, đã có nhiều câu hỏi đặt ra cho sự phát triển thật sự của Biên Hòa cũng như tỉnh Đồng Nai về hạ tầng giao thông. Chính vì vậy, xác định được tầm quan trọng của giao thông Đồng Nai trong vai trò kinh tế cả nước. Đồng Nai bắt đầu quan tâm nhiều hơn các dự án giao thông tầm cỡ và đồng thời phát triển giao thông nội bộ từ đô thị về đến nông thôn.[8].
Đồng Nai là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh hàng đầu cả nước. thêm vào đó, Đồng Nai nằm ngay cửa ngõ từ Bắc vào thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm kinh tế của cả nước. Vì vậy, sự phát triển giao thông cho Đồng Nai đã được chú trọng. cụ thể những dự án lớn như:

Đường sắt [9]

Dự án đường sắt Bắc Nam, dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam (dự án này chưa được Quốc hội phê duyệt nhưng trong quy hoạch của Chính phủ thì Đồng Nai cũng nắm trong dự án này)
Tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua dài 87,5Km với 08 ga như: Biên Hoà, Hố Nai, Trảng Bom, Dầu Giây, Long Khánh, Bảo Chánh, Gia Ray và Trảng Táo. Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối liền các tỉnh phía Bắc và TP.HCM.
+ Theo quy hoạch giao thông đến 2010 và định hướng 2020 thì tuyến đường sắt Bắc Nam hiện có sẽ được chắn chỉnh tuyến chính TP.Biên Hoà và mở thêm tuyến Biên Hoà–Vũng Tàu, từ tuyến này dự kiến sẽ có các đường nhánh dẫn về các cảng lớn. Ngoài ra còn có đường sắt trên cao nối TP.HCM với sân bay Quốc tế Long Thành, đường sắt trên cao nối TP.HCM với TP.Biên Hoà.
+ Trong tương lai hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh sẽ tiếp tục được nâng cấp, mở rộng và đầu tư mới như trục đường bộ các nước khu vực Đông Nam Á, đường cao tốc nối TP. Hồ Chí Minh với Bà Rịa - Vũng Tàu, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, kế hoạch nối mạng đường sắt Singapore - Côn Minh (Trung Quốc) có 50 km chạy qua Đồng Nai để hòa vào mạng lưới đường sắt Bắc - Nam được cải tạo theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuyến đường sắt Bắc - Nam từ ga Trảng Bom xuống khu vực ga Biên Hòa mới, đến cầu Đồng Nai dài 18,5 km. Từ ga Biên Hòa mới sẽ mở tuyến đi Bà Rịa - Vũng Tàu, với dự kiến mở thêm nhánh từ ga Long An vào khu vực cảng Phú Hữu, KCN Ông Kèo và cảng Phước An dài 32 km. Ngoài ra sẽ triển khai thêm hệ thống đường sắt trên cao ở nội ô TP. Biên Hòa và từ TP. Biên Hòa đi TP.HCM.

Đường bộ

Có những dự án lớn như đường cao tốc Biên Hòa - vũng Tàu [10], dự án đường cao tốc Dầu Giây - Long Thành - thành phố Hồ Chí Minh [11] , đường cao tốc Dầu Giây - Đà Lạt [12], đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết [13]...
Ngoài ra, Đồng Nai cũng vừa khánh thành xong hai cây cầu lớn kết nối Bình Dương - một tỉnh phát triển không kém so với Đồng Nai - với Đồng Nai là cầu Thủ Biên nhằm tạo đà phát triển chung cho hai tỉnh [14] và cầu đồng Nai mới cửa ngõ vào Thành phố Hồ Chí Minh [15], xây dựng cầu Hóa An mới [16], đường quốc lộ IA tránh thành phố Biên Hòa [17]...
a. Hiện trạng giao thông:[18]
Đồng Nai có một hệ thống giao thông phát triển khá đồng bộ, theo thống kê nếu tính cả giao thông nông thôn và giao thông khu phố thì Đồng Nai có 3.058 tuyến đường với tổng chiều dài 6.266,763Km. Trong đó:
- Đường Quốc lộ gồm 05 tuyến (QL1A, QL1K, QL20, QL51, QL56) với tổng chiều dài 244,23Km được nâng cấp mở rộng đạt tiêu chuẩn đường cấp II, III đồng bằng.
- Đường tỉnh gồm 20 tuyến với tổng chiều dài 370Km, đường nhựa đạt tỷ lệ 76% còn lại chủ yếu là đường cấp phối sỏi đỏ. Chất lượng đường được nâng lên rõ rệt dần dần đáp ứng được nhu cầu vận tải và lưu thông hàng hoá ngày càng tăng của vùng kinh tế trong điểm phía Nam.
- Đường huyện, thị xã, thành phố gồm 249 tuyến với tổng chiều dài 1317Km, đường nhựa đạt trên 65% - Đường xã, phường gồm 2.629 tuyến với tổng chiều dài 3.835Km. 100% xã phường có đường ô-tô đến trung tâm, một số xã vùng sâu vùng xa, xã đặc biệt khó khăn nhờ vào chương trình xã hội hoá giao thông nông thôn và giao thông khu phố nên tỷ lệ nhựa hoá đạt 60-70%.
- Đường chuyên dùng gồm 155 tuyến với tổng chiều dài 390Km, tỷ lệ nhựa hoá đạt 100%. Được sự quan tâm và đầu tư đúng mức hệ thống giao thông đường khu công nghiệp phát triển khá nhanh, tạo nên một mạng lưới giao thông liên hoàn đến tận cơ sở.
b. Quy hoạch và định hướng phát triển:[18]
Hiện nay, ngành Giao thông Đồng Nai đã và đang triển khai thực hiện các dự án nâng cấp QL56, QL1K và xây dựng mới tuyến đường tránh TP.Biên Hoà. Đầu tư nâng cấp các tuyến đường tỉnh như : ĐT.761; ĐT.764; ĐT.766; ĐT.769….. thành đường cấp III, IV đồng bằng, hoàn thành bêtông nhựa 100% trên các tuyến đường tỉnh. Hoàn thành đầu tư nâng cấp các cầu trên đường tỉnh thành cầu vĩnh cửu, đảm bảo khả năng chịu tải H30-XB80.
Đồng Nai năm trong vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam có một vai trò hết sức quan trọng, là đầu mối giao thông của toàn vùng. Đây chính là điều kiện thuận lợi để Đồng Nai thu hút vốn đầu tư trở thành một trong những địa phương có tốc độ phát triển kinh tế nhanh trong cả nước. Tuy nhiên hiện tại giao thông của Đồng Nai chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tế đòi hỏi. Ngay từ năm 1995 tỉnh Đồng Nai đã xây dựng đề án quy hoạch giao thông Đồng Nai đến năm 2010 và hiện nay đang lập lại quy hoạch giao thông Đồng Nai đến năm 2010 và định hướng 2020. Ngoài những tuyến đường Quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, trong tương lai Đồng Nai còn có các tuyến đường cao tốc như: Đường cao tốc TP.HCM – Long Thành - Dầu Giây; đường cao tốc Dầu Giây – Đà Lạt; đường cao tốc Biên Hoà – Vũng Tàu. Ngoài ra Đồng Nai còn mở rộng phát triển giao thông nối với các tỉnh, thành phố lân cận như: Cầu đường Quận 9 TP.HCM sang Nhơn Trạch; cầu Thủ Biên nối huyện Vĩnh Cửu với Tỉnh Bình Dương và đường Bà Hào – Sân bay Rang Rang nối với tỉnh Bình Phước. Tỉnh Đồng Nai cũng đang quy hoạch mở rộng các nút giao thông ngã 4 Tam Hiệp, ngã 4 Vũng Tàu, mố A, B cầu Hoá An, nút giao khu vực Dầu Giây, nút giao cổng 11 Long Bình (thuộc dự án QL1 đoạn tránh TP.Biên Hoà). Đường song hành QL1A (xa lộ Hà Nội) – Biên Hoà và nút giao thông đấu nối 2 KCN Biên Hoà 1 – Biên Hoà 2, nhằm đáp ứng nhu cầu lưu thông ngày càng tăng.

Đường hàng không

Dự án sân bay quốc tế Long Thành

Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cửa ngõ đường hàng không vào Việt Nam cho khu vực Đông Nam Á và thế giới.[19] Sân bay này được xây dựng trên khu đất rộng 5000 ha[20] thuộc địa phận huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai bao gồm các xã: Long Phước, Bàu Cạn, Long An, Bình Sơn, Suối Trầu và Cẩm Đường. Cách sân bay Tân Sơn Nhất 43 km về phía đông nam; trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 40 km; cách trung tâm thành phố Biên Hòa: 24 km.[19]
Cảng hàng không quốc tế Long Thành có năng lực tiếp nhận 80-100 triệu hành khách/năm (30,000 HK/GCĐ)[21] và 5 triệu tấn hàng hóa/năm, và các loại máy bay lớn A380-800, A380F. Chi phí đầu tư khoảng 6,6 tỷ USD – trong đó thực hiện giai đoạn 1 khoảng 2,1 tỷ USD. Dự kiến đưa vào sử dụng (trong khoảng thời gian 2011-2015) hỗ trợ cho cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất.[19]

Đường thủy và cảng nước [22]

Có cảng Thị Vải, cảng Đồng Nai, cảng Phú Mỹ ....

Khu Cảng trên sông Đồng Nai

+ Cảng Đồng Nai: Tổng diện tích 7,5ha là cảng tổng hợp quy mô cho tàu 5000DWT. Đã xây dựng xong giai đoạn I lượng hàng qua Cảng 500.000tấn/năm. Khi hoàn thành giai đoạn 2, lượng hàng qua cảng dự kiến 1.000.000 tấn/năm.
+ Các cảng chuyên dùng: Gồm 2 cảng chuyên dùng hiện hữu là cảng SCTGAS-VN và cảng VTGAS sử dụng bốc xếp hàng lỏng quy mô cho tàu 1000DWT
+ Cảng tổng hợp Phú Hữu II đối diện cảng Cát Lái thành phố Hồ Chí Minh chiều dài bến quy hoạch 2000m sâu vào bờ 500m quy mô cho tàu 20.000 tấn, hiện có công ty GEMADEPT, công ty Ximăng Hà Tiên đang xin được thoả thuận địa điểm xây dựng cảng với chiều dài bờ 1.100m và cảng Bến Nghé đã có văn bản đề nghị xin được làm mới.
+ Cảng tại khu vực Tam Phước, Tam An là cảng phục vụ khu công nghiệp khi có yêu cầu. Quy mô tương đương cảng Đồng Nai cho tàu 5.000DWT cập bến.

Khu Cảng trên sông Nhà BèLòng Tàu

+ Cảng gỗ mảnh Phú Đông: Là cảng chuyên dụng đang khai thác cho cỡ tàu 25.000DWT chỉ phục vụ bốc xếp gỗ mảnh xuất khẩu của Công ty liên doanh Phú Đông.
+ Cảng xăng dầu Phước Khánh: Là cảng chuyên dụng kề tiếp phía hạ lưu cảng Phú Đông, đang khai thác quy mô cho tàu 25.000DWT phục vụ bốc dỡ xăng dầu của Công ty xăng dầu Đồng Tháp.
+ Cảng nhà máy đóng tàu 76: Chiều dài bờ sông 950m là cảng chuyên dùng phục vụ Nhà máy đóng tàu 76, quy mô đóng mới và sửa chữa tàu 50.000DWT, hiện đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng .
+ Cảng tổng hợp Phú Hữu 1: Đã được UBND tỉnh duyệt kế hoạch chi tiết 1/2000 chiều dài bờ sông 750m, sâu vào bờ 500m diện tích 37,5ha, quy mô tàu 20.000DWT. UBND Tỉnh đã giới thiệu cho Công Ty Vận Tải Dầu Khí Việt Nam lập thủ tục đầu tư xây dựng bến cảng tổng hợp và hệ thống kho bãi với chiều dài bến 400m diện tích 20ha tại quyết định số 4674/QĐ.CT.UBT ngày 18/12/2002. Hiện công ty đang có công văn số 2301725/DA-KH ngày 22/12/2003 xin được đầu tư tiếp 17,5ha còn lại của cảng tổng hợp Phú Hữu I với chiều dài 350m.
+ Cảng cụm Công nghiệp Vật liệu xây dựng Nhơn Trạch, đây là cảng chuyên dùng do Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đồng Nai đầu tư đang san lấp mặt bằng. Về cảng này trong công văn số 2182/GTVT/KHĐT ngày 21/6/2002 Bộ Giao thông vận tải đã thoả thuận dự án với quy mô: Chiều dài bờ sông 519m, diện tích 21,395 ha thuộc khu công nghiệp Ông Kèo, quy mô cho tàu 20.000DWT.
+ Cảng nhà máy dầu nhờn Trâm Anh: Đây là cảng chuyên dụng chiều dài bờ sông 300m, diện tích 6ha do nhà máy dầu nhờn Trâm Anh đầu tư quy mô cho tàu 2000 - 5000DWT đã san lấp mặt bằng.
+ Cảng VIKOWOCHIMEX: Nằm phía hạ lưu nhà máy dầu nhờn Trâm Anh là cảng chuyên dùng hiện đang hoạt động bốc xếp hàng gỗ dăm mảnh xuất khẩu của Công ty xuất khẩu dăm gỗ mảnh VIKOWOCHIMEX quy mô cho tàu 15000DWT.
+ Cảng Sun Steel – China Himent diện tích 12ha: Nằm sát hạ lưu cảng VIKOWOCHIMEX dự kiến bố trí cảng chuyên dùng cho công ty CHINA-HIMENT Đài Loan và công ty Sun Steel (trước đây là Công ty sắt thép Vina TaFong) cảng sẽ phục vụ cho cả hai công ty trên nhập nguyên liệu và xuất sản phẩm ximăng cường độ cao của Công ty China Himent, nhập phế liệu thép và xuất sản phẩm thép của Công ty Sun Steel. Đây dự kiến là cảng cuối cùng phía hạ lưu của khu cảng trên sông Nhà Bè – Lòng Tàu.
+ Các cảng chuyên dùng khác: Khu đất từ hạ lưu cảng cụm công nghiệp vật liệu xây dựng Nhơn Trạch đến thượng lưu cảng nhà máy dầu nhờn Trâm Anh có chiều dài bờ sông khoảng 1.5Km có thể bố trí một số cảng chuyên dùng cho các dự án nằm dọc bờ sông. Hiện tại, UBND Tỉnh đã có văn bản số 955/QĐ.CT.UBT ngày 31/3/2003 chấp thuận chủ trương và giới thiệu địa điểm cho Công ty TNHH sản xuất Bảo Tín xây dựng xưởng đóng tàu.

Khu cảng trên sông Thị Vải

+ Cảng Phước An là cảng tổng hợp quy mô phục vụ tàu 60.000DWT. Chiều dài bến 3.050m, sâu vào bờ 500m, diện tích 183ha, cảng đã có quy hoạch chi tiết 1/2.000 được UBND Tỉnh phê duyệt, cụ thể như sau : - Khu cảng Container 60.000DWT: 06 bến – 1.830m. - Khu cảng tổng hợp 60.000DWT : 04 bến – 1.220m. Tổng cộng: 3.050m.
+ Cảng Phước Thái (cảng VEDAN) chiều dài bến 340m là cảng chuyên dùng, gồm 02 bến : 01 bến cho tàu hàng khô trọng tải 10.000 DWT (hạ lưu) và 01 bến cho tàu hàng lỏng trọng tải 12.000 DWT (thượng lưu).
+ Cảng Gò Dầu A là cảng tổng hợp hiện hữu đang khai thác cho tàu 2.000DWT với chiều dài bến 30m, dự kiến bến xây dựng dọc theo chiều dài bờ sông bằng 350m, quy mô cho tàu 5.000 – 10.000DWT.
+ Cảng Gò Dầu B là cảng tổng hợp hiện có hai bến: Bến tổng hợp số 1 đã đưa vào khai thác một phân đoạn dài 60m khai thác cho tàu 6.500DWT, dự kiến xây dựng bến chiều dài 870m cho tàu đến 15.000DWT. Bến tổng hợp số 2 gồm 01 bến tàu 120m cho tàu trọng tải đến 12.000DWT và 01 bến sà lan dài 20m cho sà lan 300 tấn.
+ Cảng Super Photphat Long Thành là cảng chuyên dùng gồm 01 bến tàu dài 50m, cho tàu 3.000DWT và 01 bến sà lan 300DWT dài 10m.
+ Cảng nhà máy Unique Gas: là cảng chuyên dụng của Công ty Unique Gas, cảng có một bến hàng lỏng cho tàu 6.500DWT với chiều dài bến là 130m.

Tài nguyên

Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản có vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông; tài nguyên rừng và nguồn nước... Ngoài ra, Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi. Trong đó, hồ Trị An diện tích 323 km² và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi....[23]

Tài nguyên nước

Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km², song phân phối không đều. Phần lớn sông suối tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây nam. Tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m³/năm, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%.[23] Các con sông chính chảy qua tỉnh Đồng Nai như: Sông Đồng Nai, và các phụ lưu lớn của nó như sông La Ngà và Sông Bé đổ vào dòng chính gần hồ Trị An. Ngoài ra còn có sông lớn khác như sông Lá Buông, sông Ray, sông Xoài và sông Thị Vải.
Tổng trữ lượng nước dưới đất của tỉnh Đồng Nai là khoảng 5.505.226 m³ /ngày. Bao gồm, trữ lượng nước tĩnh vào khoảng 793.379 m³/ngày, trong đó, trữ lượng dung tích (trữ lượng tĩnh trọng lực) là 789.689 m³/ngày và trữ lượng đàn hồi là 3691 m³/ngày. Trữ lượng động khoảng 4.714.847 m³/ngày là toàn bộ dòng mặt vào mùa khô và là giới hạn dưới của trữ lượng nước dưới đất. Tuy có trữ lượng nước dưới đất phong phú, nhưng phân bố không đều, và nhu cầu khai thác tăng cao vào các tháng mùa khô nên việc khai thác nước dưới đất cần phải theo qui hoạch khai thác hợp lý.[23]

Tài nguyên du lịch

Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Văn miếu Trấn Biên (Biên Hòa), đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, khu du lịch sinh thái Thác Mai - hồ nước nóng, Đảo Ó, chiến khu Đ, Văn miếu Trấn Biên, mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa, khu du lịch thác Giang Điền, khu du lịch Long Châu Viên (Xuân Tân, Long Khánh), khu du lịch Vườn Xoài, khu di tích cấp quốc gia - núi Chứa Chan (núi Gia Lào), Hồ Núi Le ( Xuân Lộc).

Văn Miếu Trấn Biên - di tích tiêu biểu ở Đồng Nai

Tài nguyên khoáng sản

Các loại tài nguyên khoáng sản ở Đồng Nai gồm có: khoáng sản kim loại, phi kim, đá quý, và nước khoáng.[23]
Các khoáng sản kim loại chủ yếu phân bố ở Đồng Nai gồm vàng, bô xít, thiếc, chì, kẽm...Các mỏ vàng nhỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An và các điểm quặng chưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối Ty, Suối Nho, Tam Bung, Suối Sa Mách, lâm trường Vĩnh An, lâm trường La Ngà, lâm trường Hiếu Liêm. Quặng bauxit phát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã Đà) và lâm trường La Ngà với trữ lượng ước đạt khoảng 450 triệu m³. Thiếc chỉ gặp dưới dạng vành phân tán khoáng vật, hàm lượng thấp, tập trung ở núi Chứa Chan, Suối Rét, Suối Sao, và sông Gia Ray. Chì kẽm đa kim được phát hiện ở núi Chứa Chan.
Các khoáng sản không kim loại như: Kaolin, đá xây dựng và ốp lát, cát xây dựng, sét gạch ngói, Puzolan, và keramzit phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu tấn.
Đá quý chỉ được phát hiện có quy mô nhỏ, không có triển vọng khai thác công nghiệp như: Ziricon (Gia Kiệm, Núi Lá, Tân Phong), Xa phia (Cầu La Ngà, phía nam Tân Phong, Gia Kiệm), Pyrop-ziricon, Opan- canxedon (núi Chứa Chan), tecfic (bắc Tài Lài).
Tài nguyên nước khoáng bao gồm các loại; nước khoáng - nước nóng ở Phú Lộc và Kay; nước khoáng Magie – bicarbonat ở suối Nho; nước khoáng siêu nhạt ở Tam Phước và Nhơn Trạch; nước khoáng sắt ở phía Nam Thành Tuy Hạ; nước mặn loại Clorua – Natri ở Nam Tuy Hạ;

Tài nguyên rừng

Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên với những giá trị nổi bật toàn cầu của khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn 47,8% diện tích tự nhiên, năm 1981 còn 21,5%. Năm 2006, độ che phủ rừng là 26,05% tổng diện tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến năm 2010.[23]

Y tế

Đồng nai là một trong những tỉnh có vị trí gần thành phố Hồ Chí Minh nên có nhiều thuận lợi trong các lĩn vực công nghệ khoa học, trong đó, mạng lưới y tế cũng rất phát triển. Cho đến nay, Đồng Nai đã thành ;ập được 11 bệnh viện tuyến huyện trên 11 huyện, thị xã và thành phố Biên Hòa. Ngoài ra, Đồng Nai còn có các bệnh viện lớn như: Bệnh viện Đa khoa khu vực Thống Nhất (Bệnh viện Thánh Tâm), bệnh viện Tâm thần Trung ương II ( còn gọi là bệnh viện Biên Hòa), bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, một bệnh viện đang được đầu tư lớn nhất khu vực [24], bệnh viện Nhi Đồng,bệnh viện Phổi tỉnh, bệnh viện Y học cổ truyền, bệnh viện 7B, bệnh viện da liễu tỉnh, và một số các cơ sở bệnh viện tư nhân, phòng khám đa khoa tư nhân khác trên địa bàn tỉnh: bệnh viện quốc tế phụ sản,bệnh viện Răng-Hàm-Mặt Việt Anh Đức, bệnh viện tư nhân Tâm Hồng Đức.... Thêm vào đó,gần như hệ thống y tế của Đồng Nai đều tổ chức tốt từ tỉnh đến các cấp cơ sở. Cụ thể mỗi xã đều có một Trạm y tế. Huyện Trảng Bom, Xuân Lộc, Nhơn Trạch, Long Thành, Cẩm Mỹ, Định Quán là huyện có 100% xã, thị trần đạt chuẩn quốc gia về y tế [25][26].
Mục tiêu phát triển của Đồng Nai là đến năm 2010 toàn tỉnh có các Trạm y tế cơ sở đạt chuẩn quốc gia, có bác sĩ khám chữa bệnh và có cơ sở hoạt động, thiết bị y tế đầy đủ khang trang nhằm chăm sóc y tế toàn dân tốt hơn [27]

Công nghiệp

Đồng Nai là thủ phủ của các khu công nghiệp trong cả nước với các cụm công nghiệp nghề truyền thống và hơn 32 khu công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đi vào hoạt động. Trung bình lấp đầy khoảng từ 70-95% diện tích.

Khu công nghiệp ở Đồng Nai [28][29]

Các khu công nghiệp tại Biên Hòa

- Khu công nghiệp Biên Hòa I ( hiện đang được quy hoạch lại để thay đổi công năng thành trung tâm dịch vụ thương mại nhằm bảo vệ môi trường sông Đồng Nai [30]
- Khu công nghiệp Biên Hòa II
- Khu công nghiệp Long Bình Tân ( Loteco)
- Khu công nghiệp Amata
- Khu công nghiệp AGTEX Long Bình
- Khu công nghiệp Tam Phước

Các khu công nghiệp tại thị xã Long Khánh

- Khu công nghiệp Long Khánh
- Khu công nghiệp Suối Tre

Các khu công nghiệp tại Nhơn Trạch

Nhơn Trạch là huyện có nhiều khu công nghiệp và tỷ lệ lấp đầy diện tích các khu công nghiệp. Nhơn Trạch cũng là huyện có tỷ trọng ngành công nghiệp chiếm chủ yếu trong cơ cấu kinh tế địa phượng.
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch I
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch II
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch II - Lộc Khang
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch II - Nhơn Phú
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch III
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch IV
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch V
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch VI
- Khu công nghiệp Ông Kèo
- Khu công nghiệp Dệt May Nhơn Trạch

Các khu công nghiệp tại Long Thành

- Khu công nghiệp Long Thành
- Khu công nghiệp Tam Phước
- Khu công nghiệp Long Đức
- Khu công nghiệp Gò Dầu
- Khu công nghiệp An Phước
- Khu công nghiệp Lộc An - Bình Sơn (500ha) - Khu công nghiệp Phước Bình 190 ha (theo văn bản số 964/TTg-KTN ngày 17/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ)

Các khu công nghiệp tại Trảng Bom

- Khu công nghiệp Hố Nai
- Khu công nghiệp Sông Mây
- Khu công nghiệp Bàu Xéo (Hiện là khu công nghiệp có diện tích quy hoạch lớn nhất tỉnh Đồng Nai với hơn 500ha)
- Khu công nghiệp Giang Điền (đã được Chính phủ quy hoạch và trong giai đoạn hoàn thiện đi vào hoạt động)

Các khu công nghiệp riêng lẻ khác

- Khu công nghiệp Xuân Lộc (Huyện Xuân Lộc)
- Khu công nghiệp Tân Phú ( huyện Tân Phú)
- Khu công nghiệp Định Quán (Huyện Định Quán)
- Khu công nghiệp Dầu Giây (Huyện Thống Nhất)
- Khu công nghiệp Thạnh Phú (Huyện Vĩnh Cửu)
- Khu công nghiệp Cẩm Mỹ 300 ha (huyện Cẩm Mỹ)(theo văn bản số 964/TTg-KTN ngày 17/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ)

Vốn đầu tư công nghiệp

Trong 6 tháng đầu tiên của năm 2010, Đồng Nai đã thu hút được hơn 30 dự án vào các khu công nghiệp với tổng số vốn thêm đầu tư nước ngoài 465,459 triệu USD và 1.557,188 tỉ đồng vốn tăng đầu tư trong nước. Như vậy, tổng vốn đầu tư ( tăng thêm và đầu tư mới là 499,958 triệu USD, ước tính đạt 359,75% so với số liệu thống kê cùng kỳ năm 2009 và đạt 66.6% kế hoạch năm.[31]. Theo cơ cấu vốn thực hiện, trong 6 tháng đầu năm, Đồng Nai là tỉnh đứng thư tư có vốn đầu tư được triển khai thực hiện và giải ngân.
Trong khi đó, tổng vốn đầu tư nước ngoài FDI vào Việt Nam trong 4 tháng đầu năm là 355 dự án (bao gồm cả cấp mới và tăng vốn đạt 80,4% vốn mới và 69,7% vốn tăng so với cùng kỳ năm ngoái so về dự án và đạt 158.5% vốn mới và 7.3% vốn tăng so với cùng kỳ năm ngoái néu tính về vốn cho dự án.[32]. Như vậy, số dự án có giảm nhưng tăng nguồn vốn cho dự án thì khả quan và nhiều hơn.

Giáo dục [33]

Mặc dù có vị trí thuận lợi là cửa ngõ phía Đông của vùng kinh tế phát triển nhất nước nhưng hệ thống giáo dục đại học và sau đại học không nhiều do Đồng Nai nằm quá gần thành phố Hồ Chí Minh - nơi có nhiều trường Đại học lớn nhất nước.
Tính cho đến nay, Đồng Nai có 3 trường đại học là Trường Đại học Đồng Nai được thành lập ngày 25/08/2010 theo Quyết định số 1572/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ từ cơ sở trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai có trụ sở tại số 04 Lê Quý Đôn, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa hoạt động theo mô hình trường đại học công lập [34] và trường đại học tư thục Lạc Hồng tại phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa [35], Đại học Nguyễn Huệ- tiền thân la trường Sĩ quan Lục quân 2, Đại học Công nghệ Đồng Nai và các cơ sở, chi nhánh của các trường đại học như Đại học Công nghiệp TP.HCM cơ sở Biên Hòa, Đại học Lâm nghiệp cơ sở 2 tại Trảng Bom, Đại học mở cở sở 2 tại Biên Hòa ....
Ngoài ra, còn có 3 trường cao đẳng là Cao đẳng Y tế Đồng Nai; Cao đẳng Sonadezi và Cao đẳng Mỹ thuật – Trang trí. Trong 6 trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh có 3 trường công lập, 2 trường ngoài công lập và 1 trường do Doanh nghiệp đầu tư, quản lý. Hiện tất cả các trường đại học đều nằm trên địa bàn thành phố Biên Hòa.
Bên cạnh đó, Đồng Nai có hệ thống trường học Phổ thông rộng khắp và phủ đều toàn tỉnh. Tất cả các hệ thống trường học được xây dựng khang trang và đạt yêu cầu tương đối. Các xã đều có 1-2 trường tiểu học. Cơ bản, ở Đồng Nai đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và tiến hành phổ cập trung học cơ sở đến toàn dân.
Với mục tiêu phát triển mạnh nền giáo dục địa phương và tạo ra nhiều môi trường cho học sinh giỏi phát triền trong tình, Đồng Nai đang phấn đầu xây dựng mô hình trường THPT chất lượng cao làm trọng điểm phát triển nhân tài cho mình [36]. Các trường THT lớn nhất tỉnh là: trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Trường THPT Ngô Quyền, Trường THPT Trọng điểm chất lượng cao Trấn Biên, Trường THPT Long Khánh, Trường THPT Nguyễn Trãi, Trường THPT Thống Nhất A, Trường THPT Trần Phú...
Chính vì vậy, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đồng Nai đặt ra yêu cầu và những điều kiện cấp tiết để đào tạo và thu hút nguồn nhân lực tốt cho nền kinh tế địa phương. Phải có nhận xét rằng, giáo dục Đồng Nai trong những năm qua có tốc độ phát triển chậm và chưa thật sự được quan tâm và đầu tư đúng mức.

Đô thị hóa

Không nằm ngoài xu thế phát triển chung của cả nước và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai là một trong những tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh.[37]
Quá trình đô thị hóa này bắt nguồn từ việc phát triển nhanh của nền kinh tế quốc gia khi thị trường hóa và sự phát triển mạnh của nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án kinh tế của Việt Nam.
Sự tăng tốc của quá trình này ngày càng mạnh khi ngày càng nhiều người dân đỗ xô vào làm công nhân tại các khu công nghiệp tập trung tại Đồng Nai [38] . Bằng chứng cho thấy là việc phát triển của các đô thị trong các huyện có khu công nghiệp tăng nhanh. Sự định hình của các dự án hình thành tạo cho Đồng Nai một vẻ mặt của một đô thị phát triển nhưng sự đô thị hóa kéo theo nhiều hệ lụy.
Vấn đề môi trường, nhà ở, phúc lợi xã hội cũng tạo áp lực lên nền kinh tế địa phương. Đã có những cuộc điều tra về tốc độ đô thị hóa gắn liền với đời sống dân lao động [39].
Một nguyên nhân tạo đà cho sự tăng tốc của quá trình đô thị háo là quá trinh hội nhập kinh tế thế giới. Việc hội nhập cho thấy rõ sự yếu kém về hạ tầng kinh tế và quản lý đô thị. Chính vì thế, Chính phủ thành lập nhiều dự án không chỉ mang tầm địa phương về cả mặt giao thông, thương mại và công nghiệp. Định hình nhanh quy hoạch phát triển dự án tại các tỉnh tron vùng kinh tế năng động khiến cho Đồng Nai có nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế đi đôi với quá trình đô thị hóa.
Điển hình nhất là dự án thành lập thành phố mới Nhơn Trạch do vị trí của Nhơn Trạch giáp thành phố Hồ Chí Minh [40]. Phát triển Long Thành, Trảng Bom trở thành những đô thị vệ tinh của hạt nhân kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa [41], phát triển thị xã Long Khánh thành đô thị loại 3 đến năm 2015.
Bên cạnh đó, mục tiêu lâu dài và trông đợi nhiều của chính quyền tỉnh là con đường trở thành tỉnh công nghiệp và là thành phố trực thuộc trung ương [42].

Nghề nghiệp truyền thống

Đồng Nai và Bình Dương là hai tỉnh miền Đông Nam Bộ có nghề nghiệp truyền thống nổi tiếng là gốm sứ [43]. Sản phẩm gốm sứ của Đồng Nai có nhiều loại và không giống như các sản phẩm gốm sứ truyền thống khác ở miền Bắc và miền Trung. Phương pháp nghệ thuật tạo hoa văn cho sản phẩm của gốm sứ Đồng Nai là kết hợp giữa khắc nét chìm và trổ thủng sản phẩm gốm rồi quét men nhưng không có sự phân biết nước men và màu ve.
Ngoài ra, Đồng Nai còn có nhiều nghề nghiệp tiểu thủ công nghiệp truyền thống như đan lát, mây tre lá nhờ nguồn tài nguyên là các rừng lá buông của địa phương.
Gia công đồ mỹ nghệ, làm các sản phẩm từ gỗ công nghệ, chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói, đúc đồng, đúc gang ... là những ngành nghề truyền thống nổi tiếng của Đồng Nai. Nắm bắt được thế mạnh này, Đồng Nai ra sức bảo vệ nghề truyền thống và thành lập các cụm công nghiệp nghề truyền thống, mở các lớp đào tạo nghề truyền thống là giải pháp then chốt và mới mẻ nhưng có tính cách lâu dài và là bước đi đúng đắn bảo vệ ngành nghề truyền thống trước sức ép phát triển của quá trình đô thị hóa, hội nhập kinh tế và đầu tư nước ngoài cho các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại [44][45]

Thương mại dịch vụ

Ngành thương mại và dịch vụ của Đồng Nai là một trong những ngành tương đối còn mới mẻ và chưa được quan tâm đầu tư đúng mức tối đa mà tiềm lực Đồng Nai có thể đáp ứng.
Một minh chứng rõ ràng cho thấy là Đồng Nai dù có dân số đông thứ hai ở miền Nam chỉ xếp sau thành phố Hồ Chí Minh nhưng các trung tâm thương mại, các siêu thị vẫn còn thưa thớt và không có đầu tư nhiều. Phát triển chủ yếu của tình là các chợ truyền thống như chợ loại I: chợ Long Khánh (Long Khánh), chợ Biên Hòa (Biên Hòa), chợ Tân Hiệp (Biên Hòa) chợ Đông Hòa (Trảng Bom), chợ Long Khánh, chợ Sông Ray (Cẩm Mỹ), chợ Tân Biên (Biên Hòa, chợ Long Thành (Long Thành) và nhiều chợ loại 2, 3 và 4 [46]
Các trung tâm thương mại lớn và sầm uất gần như tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn của tỉnh như Trung tâm thương mại Big C (Biên Hòa), Coorpmart, Vinatext mới đây tập đoàn Metro Cash and Carry mới đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại Metro tại Biên Hòa [47]
Gần đây, khi nhận ra sự phát triển thiếu đồng bộ và chênh lệch giữa các ngành trong tỉnh, và để đáp ứng nhu cầu phát triển về thương mại dịch vụ, các dự án và quy hoạch phát triển các trung tâm thương mại được hình thành như Trung tâm thương mại Long Khánh (Long Khánh) [48], trung tâm thương mại Mũi Tàu (Long Thành) [49], Trung tâm thương mại Trảng Bom [50] ...
Hiện nay, khi hội nhập kinh tế thế giới, cam kết lộ tình thay đổi chính sách kinh tế khi vào WTO của Việt Nam, các tập đoàn bán lẻ bắt đầu xem xét và đổ bộ ngành thương mại dịch vụ vào Việt Nam. Đồng Nai cũng đã có những tầm nhìn rộng và mới cho ngành "công nghiệp không khói" hấp dẫn này, đặc biệt là các cao ốc văn phòng, cao ốc chung cư, các dự án trung tâm thương mại rộng khắp.

Nông nghiệp và nông thôn

Hiện nay, Đồng Nai cơ bản đã trở thành một tỉnh công nghiệp nhưng không vì thế mà tỉnh này không phát triển về nông nghiệp và đô thị hóa nông thôn. Tỷ trọng nông nghiệp của tỉnh chủ yếu tập trung tại các huyện miền núi và trung du phía Bắc như Thống Nhất, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Tân Phú.... Nhìn chung, bình quân về tỷ trọng ngành tại Đồng Nai không chênh lệch cao và có sự phân hóa khu vực chức năng rõ rệt. Trung tâm cả tỉnh về công nghiệp tập trung tại Biên Hòa và các huyện Vĩnh Cửu, Long Thành, Trảng Bom, Nhơn Trạch. Trong khi đó, các huyện Thống Nhất, Cẩm Mỹ như đã được phân biệt rõ chức năng phát triển nông nghiệp cho toàn tỉnh.
Nông nghiệp Đồng Nai nhìn chung rất thuận lợi vì điều kiện thời tiết, địa hình và khả năng chuyên sản của tỉnh. Đất đỏ Bazan là một điều kiện thuận lợi đầu tiên cho việc trồng cây công nghiệp và cây ăn trái, cây lâu năm... Nguồn tưới tiêu cũng dồi dào nhờ hệ thống sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Lá Buông, và kênh rạch ao suối sông hồ tương đối rộng khắp. Thời tiết ở Đồng Nai cũng ít bị bão tàn phá. Tuy nhiên, hằng năm vào mùa mưa, vẫn có sự ngập lụt tại một số huyện miền núi gây ảnh hưởng đên nông nghiệp.
Nông thôn Đồng Nai cũng không thoát khỏi làn sóng đô thị hóa chung của cả nước. Bộ mặt nông thôn ngày nay càng ngày càng thay đổi và bị quy hoạch nhiều vào các dự án phát triển công nghiệp.
Nếu cách đây chừng 5-10 năm, các huyện ở Đồng Nai được biểu trưng bằng những rừng cao su bạt ngàn thì nay đã phải nhường chỗ cho các dự án công nghiệp. Cùng với đó là vấn đề chuyển đổi đất canh tác thành đất thổ cư tạo ra một cơn sốt đất tại khu vực nông thôn Đồng Nai. Trong những năm gần đây, do các dự án lớn đổ bộ, đất nông nghiệp ở Đồng Nai trở thành cơn sốt chung của khu vực Đông Nam Bộ. Đất canh tác Đồng Nai ngày càng giảm nhưng nhưng sản lượng nông nghiệp không giảm nhờ các công nghệ hiện đại.[51]
Cùng với đó là quá trình nông thôn mới do tỉnh Đồng Nai thực hiện nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn. Mục tiêu của quá trình này là việc xóa đói giảm nghèo, chăm lo đời sống nông thôn , quy hoạch cụm định canh định cư rõ ràng, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, thay đổi kỹ thuật công nghệ nhằm tăng năng suất, định hướng phát triển ngành chuyên canh chuyên cư, nâng cao dân trí nông thôn, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ nông nghiệp canh tác cho nông dân nhất là đồng bào dân tộc thiểu số....[52]

Quy hoạch phát triển

Quy hoạch phát triển cho tương lai của Đồng Nai là vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết. Một khó khăn trong những thuận lợi của Đồng Nai dành cho việc quy hoạch phát triển của Đồng Nai là vị trí.
Đứng trước hai ngưỡng phát triển của một đô thị hoặc đơn chứa năng hoặc đa chức năng, Đồng Nai cần đang xác định một hướng đi cho riêng mình. Theo Phó Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Minh Hòa:"Có hai loại đô thị, gồm đô thị đơn chức năng và đô thị đa chức năng. Theo tôi, Biên Hòa chỉ nên phát triển là một thành phố công nghiệp và dịch vụ. Nhưng dịch vụ đó chỉ nên là các loại dịch vụ trung bình và phổ thông, phục vụ cho công nghiệp. Không tập trung phát triển nhiều vào các loại dịch vụ cao cấp vì dịch vụ cao cấp phải đổ vốn đầu tư rất nhiều, trong khi tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư rất thấp. Bởi vì, khoảng cách từ Biên Hòa hiện nay xuống đến TP.Vũng Tàu hay TP.Hồ Chí Minh cũng đều quá gần. Người ta sẽ tiêu thụ những dịch vụ cao cấp tại những nơi này. Biên Hòa và Đồng Nai cũng đang đối mặt với một thách thức là nên phát triển các KCN tập trung hay các KCN phân tán. Nếu phát triển công nghiệp tập trung, tức đặt các KCN gần nhau, sẽ phải giải các bài toán về nhà ở cho công nhân, sự đồng bộ của cơ sở hạ tầng... Nếu phát triển các KCN phân tán, tức đưa về các huyện, sẽ giảm được những chi phí trong đầu tư hạ tầng kỹ thuật, thế nhưng lại phải đối mặt với các vấn đề về môi trường, nông dân mất đất sản xuất... Tôi cho rằng, muốn trả lời được những câu hỏi này, cần phải có khảo sát, nghiên cứu thật kỹ để từ đó có câu trả lời cho lựa chọn phát triển công nghiệp tập trung hay phân tán. Hai hình thái phát triển công nghiệp này sẽ dẫn tới hai cách thức tổ chức đô thị khác nhau, hai loại hình KCN khác nhau, thậm chí là hai loại lối sống khác nhau. Ngoài ra, Biên Hòa còn có thể chia sẻ được với TP.Hồ Chí Minh, vì tới đây thành phố này sẽ tập trung vào ngành công nghệ kỹ thuật cao. Còn với những nhà máy có công nghệ trung bình, sử dụng nhiều lao động, cần mặt bằng lớn, thì khả năng sẽ phân tán về các tỉnh và Biên Hòa sẽ hứng những nhà máy dạng này. Cũng có thể TP.Biên Hòa sẽ đặt ra mục tiêu thu hút những nhà máy công nghệ cao nhưng đẩy các nhà máy có công nghệ trung bình về các huyện hay các tỉnh khác cũng sẽ là rất khó. Công nghệ cao là rất tốt, nhưng lại không giải quyết được việc làm. Trong từ 20 - 30 năm nữa, Đồng Nai vẫn phải là địa phương giải quyết việc làm cho lực lượng lao động bằng các nhà máy có công nghệ trung bình, cần đông nhân công và diện tích lớn." [53].
Như vậy, Đồng Nai cần phải phát triển theo hướng quy hoạch là trở thành một trung tâm công nghiệp của vùng kinh tế cũng như cả nước. Điều này dễ dàng đạt hơn trong mục tiêu phát triển của Đồng Nai bởi hệ thống hạ tầng và xu hướng phát triển cõng nghiệp hiện có của Đồng Nai.

Ngành du lịch và các điểm du lịch nổi tiếng

Du lịch không phải là một thế mạnh của Đồng Nai. Đồng Nai là một vùng đất mới nhưng nhanh chóng phát triển nên không có nhiều điểm du lịch nổi tiếng. Tuy vậy, Đồng Nai lại có những khu du lịch còn hoang sơ mang đậm vẻ đẹp thiên nhiên, nổi bật nhất là khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Trong quy hoạch vùng thành phố Hồ Chí Minh, chỉ có thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu được quy hoạch trở thành trung tâm du lịch của toàn khu vực. Đến Đồng Nai chỉ có những khu du lịch được đầu tư sơ sài. Gần đây, Đồng Nai đã bắt đầu chú trọng đến du lịch và khai thác khả năng tiềm tàng của nó. Năm 2009, Đồng Nai đón chào 1.7 triệu lượt khách đến du lịch tăng 19% so với năm 2008 và vượt kế hoạch định hướng là 0.5%. Trong năm 2010, Đồng Nai đặt ra một mục tiêu là phát triển ngành du lịch để làm tăng 19% lượt khách và doanh thu so với năm 2009. Nhìn chung, du lịch tại Đồng Nai chưa góp nhiều cho ngân sách tỉnh này nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng của ngành kinh tế [54].

Lối ra và định hướng

Nhìn nhận từ nhược điểm của du lịch tỉnh để rút ra một lối ra và định hướng phát triển chung cho du lịch Đồng Nai.
Một điều dễ hiểu và cũng là nguyên tắc quan trọng nhất của kinh tế nói chung và du lịch nói riêng là sự quảng bá và truyền thông hình ảnh của du lịch. Có thể nhận ra rất rõ là lâu nay, du lịch Đồng Nai chưa được biết đến nhiều do không có sự đầu tư quảng bá rộng như Bà Rịa - Vũng Tàu cho ngành du lịch. Vì vậy, năm 2010, Đồng Nai đặt mục tiêu phải quảng bá rộng, quảng bá nhiều từ trong tỉnh ra đến cả nước để quảng cáo về hình ảnh du lịch tiềm tàng vốn bị lãng quên rất nhiều ở Đồng Nai [55].
Đầu tư chưa đúng mức: Đồng Nai chưa thật sự đầu tư đúng mức cho du lịch tỉnh. Đến nay, đa phần là đầu tư nhỏ lẻ, chưa quy mô và liên kết với nhau. Chỉ có vài khu du lịch được nhiều người biết đến như Bửu Long, Giang Điền, Bò Cạp Vàng, Bò sữa Long Thành... Thêm vào đó, Đồng Nai chưa thật sự mời gọi đầu tư để phát triển tour du lịch đúng nghĩa và đúng tầm để khai thác giá trị của các công tình văn hóa nổi tiếng trong tỉnh như Cù Lao Phố, Thành cổ Biên Hòa, Đình Tân Lân, Văn Miếu Trấn Biên, mộ cổ Hàng Gòn (Long Khánh)...[56]. Ngoài ra, Đồng Nai còn có thế mạnh là một tỉnh có đa phần dân Thiên Chúa giáo nên các công tình kiến trúc tôn giáo có giá trị nghệ thuật, lâu đời như : Nhà thờ Lộc Lâm [57], Biên Hòa , Nhà thờ Dầu Giây (xây từ thời Pháp thuộc có hơn 100 năm tuổi), Tòa Giám Mục và Đại chủng viện Thành Giuse (cơ sở 2) Xuân Lộc ( Long Khánh) [58]...
Định hướng phát triển gần đây của Đồng Nai được trang web của tỉnh xác định: "Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch trong năm cũng được đẩy mạnh với việc thực hiện ấn phẩm Sổ tay hướng dẫn đầu tư du lịch, xây dựng cơ sở dữ liệu GIS về thương mại và du lịch; tiếp tục tiến hành thực hiện các dự án về du lịch như đầu tư khu du lịch sinh thái và nhà ở tại mỏ đá Bình Hòa, dự án khu du lịch sinh thái hồ Đa Tôn, dự án nuôi trồng thủy sản kết hợp du lịch sinh thái tại xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch…Đồng thời, ngành du lịch cũng tiếp tục mời gọi đầu tư khu du lịch Ông Kèo, khu du lịch Cù Lao ông Cồn, mở rộng dự án khu du lịch Bửu Long…" như là một giải pháp tích cực nhất cho ngành du lịch tỉnh.[59]

Điểm du lịch nổi bật trong tỉnh

Bảng liệt kê này không sắp xếp theo thứ tự thu hút và vẻ đẹp của khu du lịch mà sắp xếp ngẫu nhiên theo kết quả tra cứu được từ nhiều nguồn.
1. Mộ cổ Hàng Gòn - Xã Hàng Gòn , Long Khánh [60]
2. Đình Phú Mỹ - Xã Phú Hội, (Nhơn Trạch) [61]
3. Rừng quốc gia Nam Cát Tiên - Tân Phú [62][63]
4. Khu du lịch Bửu Long và hồ Long Ần - Phường Bửu Long, (Biên Hòa)[64]
5. Thác Trị An - Trảng Bom - Vĩnh Cửu - Tân Phú [65]
6. Làng Bưởi Tân Triều [66]
7. Làng nghề gốm [66]
8. Bảo tàng Đồng Nai [66]
9. Cù Lao Ba Xê <[66]
10. Chùa Ông [66]
11. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh [66]
12. Sân Gôn Đồng Nai - TT Trảng Bom (Trảng Bom) [67]
13. Đảo Ó - Đồng Trường (Vĩnh Cửu) [68].
14. Khu du lịch sinh thái Vườn Xoài - (Trảng Bom)
15. Khu du lịch Thác Giang Điền - Xã Giang Điền (Trảng Bom)
16. Khu du lịch sinh thái Sơn Tiên - (Long Thành ) đang xây dựng [69][70]
17. Thác Ba Giọt - (Định Quán) [71]
18.Thác Đá Mai - (Định Quán)[71]
19. Đá Ba Chồng - (Định Quán) [72]
20. Núi Chứa Chan và chùa Gia Lào - (Xuân Lộc [73]
21. Khu du lịch sinh thái Cao Minh - (Vĩnh Cửu) [74]
22. Rừng Sác Nhơn Trạch [75].
23. Tượng đài chiến thắng Long Khánh và Tòa Giám mục - Đại chủng viện Xuân Lộc [75].
24. Sông La Ngà - (Định Quán) <[75].
25. Quần thể du lịch Trung tâm thành phố Biên Hòa bao gồm : Đình Tân Lân, Văn Miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Thành cổ Biên Hòa [76], khu vui chơi quanh bờ sông Đồng Nai, chợ đêm công viên Biên Hùng, Bảo tàng Đồng Nai, công viên chiến thắng Long Bình, Trung tâm hương mại Big C, Khu công nghiệp xanh Biên Hòa II, chợ Biên Hòa, chùa Đại Giác, thư viện Biên Hòa, Trung tâm phức hợp thể thao và tổ chức sự kiện tỉnh Đồng Nai ...[77][78]
26. Hồ Đa Tôn - Tân Phú
27. Thác Hòa Bình - (Định Quán) [79]
28. Suối Mơ - (Định Quán) [79]
Danh sách này chỉ là một phần nổi tiếng của các điểm du lịch tuyệt vời của Đồng Nai chưa phải là bản liệt kê đầy đủ Có thể nói, Đồng Nai có nhiều kiến trúc và tiềm năng du lịch cao nhưng chưa được khai thác như một "em bé còn ngủ mê chờ được đánh thức". Định hướng phát triển của Đồng Nai là một chính sách vô cùng đúng đắn để Đồng Nai thay đổi bộ mặt du lịch của mình trong ngành du lịch Việt Nam.

Những di tích lịch sử tại Đồng Nai

I. Những di tích lịch sử được công nhận cấp quốc gia

Di tích được xếp hạng cấp quốc gia có 24 di tích (xếp theo thứ tự thời gian xếp hạng), gồm:
1. Mộ cự thạch Hàng Gòn (1982)
2. Địa điểm chiến thắng La Ngà (1986)
3. Nhà Xanh (1986)
4. Đài Chiến sĩ/Đài Kỷ Niệm (1988)
5. Danh thắng Đá chồng Định Quán (1988)
6. Toà Hành chánh Long Khánh (1988)
7. Đình An Hoà (1989)
8. Danh thắng Bửu Long (1990)
9. Chùa Đại Giác (1990)
10. Lăng mộ Trịnh Hoài Đức (1990)
11. Đình Tân Lân (1991)
12. Đền thờ và Mộ Nguyễn Hữu Cảnh (1991)
13. Chùa Long Thiền (1991)
14. Nhà hội Bình Trước (1991)
15. Quảng trường Sông Phố (1991)
16. Đền thờ Nguyễn Tri Phương (1992)
17. Nhà lao Tân Hiệp (1994)
18. Mộ Nguyễn Đức Ứng và 26 nghỉa binh (1994)
19. Căn cứ Khu uỷ miền Đông Nam Bộ (1997)
20. Mộ - đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh (1998)
21. Địa đạo Suối Linh (1999)
22. Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (2001)
23. Chùa Ông/Thất phủ cổ miếu (2001)
24. Địa đạo Nhơn Trạch (2001)

II. Những di tích lịch sử được công nhận cấp tỉnh

Di tích được xếp hạng cấp tỉnh có 16 di tích (xếp theo thứ tự thời gian xếp hạng), gồm:
1. Bửu Hưng tự/chùa Cô hồn (1979)
2. Toà bố Biên Hoà (1979)
3. Địa điểm Ngã ba Giồng Sắn (2001)
4. Đình Bình Quan (2004)
5. Đình Phú Mỹ (2005)
6. Nhà cổ Trần Ngọc Du (2005)
7. Địa điểm Căn cứ Tỉnh uỷ Biên Hoà (2005)
8. Địa điểm thành lập chi bộ Đảng cộng sản Bình Phước Tân Triều và Tỉnh uỷ Lâm thời Biên Hoà (2007)
9. Đình Phước Lộc (2007)
10. Thành Biên Hoà (2008)
11. Đình Xuân Lộc – chùa Xuân Hoà (2008)
12. Miếu Tổ sư/Thiên hậu cổ miếu (2008)
13. Đình Hưng Lộc (2008)
14. Đình Phước Thiền (2009)
15. Núi Chứa Chan (2009)
16. Vườn Cao su đầu tiên, sân điểm đồn điền cao su Dầu Giây (2009)

III. Phân bố các di tích trong tỉnh

Di tích phân bố trên các địa bàn hành chánh như sau:
1. Biên Hoà có 21 di tích, gồm: Bửu Hưng tự/chùa Cô hồn (phường Quang Vinh), Toà bố Biên Hoà, Nhà hội Bình Trước, Quảng trường Sông Phố (phường Thanh Bình), Nhà Xanh (phường Thống Nhất), Đài Chiến sĩ, Lăng mộ Trịnh Hoài Đức (phường Trung Dũng), Danh thắng Bửu Long, Miếu Tổ sư/Thiên hậu cổ miếu (phường Bửu Long), Chùa Đại Giác, Đền thờ - mộ Nguyễn Hữu Cảnh, Chùa Ông/Thất phủ cổ miếu, Đình Bình Quan (xã Hiệp Hoà), đình Tân Lân (phường Hoà Bình), Chùa Long Thiền, Đền thờ Nguyễn Tri Phương (phường Bửu Hoà), Nhà lao Tân Hiệp (phường Tân Tiến), Mộ - đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh (phường Long Bình và phường Tam Hiệp), Nhà cổ Trần Ngọc Du (phường Tân Vạn), Thành Biên Hoà (phường Quang Vinh), Đình An Hoà (xã An Hoà)
2. Thị xã Long Khánh có 03 di tích, gồm: Mộ Cự thách Hàng Gòn (xã Hàng Gòn), Toà hành chánh Long Khánh, Đình Xuân Lộc – chùa Xuân Hoà (phường Xuân An).
3. Huyện Định Quán có 02 di tích: Địa điểm chiến thắng La Ngà (xã Phú Ngọc), Danh thắng Đá chồng (thị trấn Định Quán)
4. Huyện Long Thành có 03 di tích, gồm: Mộ Nguyễn Đức Ứng và 26 nghĩa binh (xã Long Phước),
5. Huyện Vĩnh Cửu có 04 di tích, gồm: Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ, Địa đạo Suối Linh (xã Hiếu Liêm), Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (xã Phú Lý), Địa điểm thành lập chi bộ Bình Phước – Tân Triều và Tình uỷ lâm thời Biên Hoà (xã Tân Bình).
6. Huyện Nhơn Trạch có 04 di tích, gồm: Địa điểm Ngã ba Giồng Sắn (xã Phú Đông), Địa đạo Nhơn Trạch (xã Long Thọ), Đình Phú Mỹ (xã Phú Hội), Đình Phước Thiền (xã Phước Thiền).
7. Huyện Thống Nhất có 02 di tích, gồm: Đình Hưng Lộc (xã Hưng Lộc), Vườn cao su đầu tiên, sân điểm đồn điền cao su Dầu Giây (xã Bàu Hàm 2).
8. Huyện Xuân Lộc có 01 di tích, gồm: Núi Chứa Chan trên địa bàn các xã Xuân Trường, Xuân Thọ, Suối Cát, Xuân Hiệp và thị trấn Gia Ray.
9. Huyện Trảng Bom có 01 di tích, gồm: Căn cứ tỉnh uỷ Biên Hoà (xã Thanh Bình).

Định hướng phát triển

"Tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, giữ vững ổn định chính trị, phát huy tối đa mọi nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh phù hợp tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực góp phần tích cực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, lợi thế ở địa phương; ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học - công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống, tạo nền tảng để đến năm 2010 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, bền vững; gắn tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân với thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ và tái tạo môi trường sinh thái. Phấn đấu đến năm 2010 tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người tăng hơn 2 lần so với năm 2000 với cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động hợp l‎ý, làm giảm đáng kể tình trạng chênh lệch giữa thành thị và nông thôn." [80]
Định hướng trước mắt, Đồng Nai sẽ cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp phát triển đến trước năm 2020. Theo quy hoạch chung toàn vùng thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai định hướng phát triển cụ thể:
- Cải tạo hệ thống hạ tầng giao thông Thành phố Biên Hòa để thúc đẩy kinh tế Thành phố và khu vực lân cận, hướng đến phát phát triển Thành phố Biên Hòa trở thành đô thị loại 1 vào năm 2020 [81][82][83][84]
-Phát triển và nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông, thay đổi cơ cấu kinh tế của thị xã Long Khánh để trở thành thành phố trực thuộc tỉnh đô thị loại 3 [85][86].
- Xây dựng huyện Nhơn Trạch đến năm 2020 trở thành một thành phố trực thuộc tỉnh đô thị loại 2 [87][88]
- Xây dựng phát triển Trảng Bom trở thành thị xã đô thị loại 4 vào năm 2015 [89]
-Xây dựng phát triển Long Thành trở thành thị xã đô thị loại 4 vào năm 2013 và trở thành Thành phố trực thuộc tỉnh đô thị loại 3 vào năm 2020.
Nếu thực hiện theo đúng tiến dộ quy hoạch phát triển và định hướng thì đến 2020, tỉnh Đồng Nai sẽ có
- 4 thành phố trực thuộc tỉnh Đồng Nai:
Thành phố Biên Hòa - đô thị loại 1
Thành phố Nhơn Trạch - đô thị loại 2
Thành phố Long Khánh - đô thị loại 3
Thành phố Long Thành - đô thị loại 3
- 1 thị xã trực thuộc tỉnh Đồng Nai
Thị xã Trảng Bom
- 6 huyện trực thuộc tỉnh Đồng Nai
Huyện Vĩnh Cửu
Huyện Tân Phú
Huyện Định Quán
Huyện Thống Nhất
Huyện Xuân Lộc
Huyện Cẩm Mỹ

No comments:

Post a Comment

http://asiafriendfinder.asia